Bệnh tăng huyết áp, phòng và điều trị

Tăng huyết áp, hoặc cao huyết áp, là một bệnh lý thường gặp, ảnh hưởng nhiều trên nam giới hơn là nữ giới, nguy cơ mắc bệnh tăng từ giai đoạn trung niên. Tăng huyết áp xảy ra khi áp lực của dòng máu lên thanh các động mạch gia tăng. Huyết áp khi đó sẽ có 2 chỉ số: chỉ số cao hơn là huyết áp tâm thu, chỉ số thấp hơn là huyết áp tâm trương. Huyết áp bình thường của người khỏe mạnh thường < 120/80 nmHg, nhưng có thể có sai biệt giữa người này và người khác.

tăng huyết áp

Nguyên nhân gây tăng huyết áp

Nguyên nhân chính xác gây gia tăng huyết áp trong 90% trường hợp hiện chưa được biết rõ, nhưng các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh. Trong hầu hết các trường hợp, tăng huyết áp không có triệu chứng. Một số bệnh nhân bị chóng mặt, buồn nôn, nôn ói và đau đầu là do biến chứng của tăng huyết áp lên các cơ quan.

Yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp

Các yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh tăng huyết áp gồm:  tuổi, di truyền, giới tính, hút thuốc lá, nghiện rượu, béo phì, stress, bệnh thận, rối loạn tuyến thượng thận, bệnh tim bẩm sinh, một vài loại thuốc, tiền sản giật, dùng nhiều muối và ít vận động.

Lời khuyên của bác sỹ cho bệnh nhân tăng huyết áp

  • Bỏ hút thuốc.
  • Duy trì lối sống lành mạnh, thường xuyên tập thể dục và theo chế độ ăn ít muối, ít chất béo.
  • Tập thư giãn và giảm tối đa stress.
  • Hạn chế uống rượu bia.
  • Nếu bị béo phì, hãy giảm cân về mức bình thường.
  • Tham khảo ý kiến bác sĩ để xem có nên ngưng hoặc đổi thuốc ngừa thai đường uống đag dùng không.
  • Khi đã dùng thuốc điều trị tăng huyết áp, phải luôn tuân theo hướng dẫn của bác sĩ.
  • Nên thường xuyên theo dõi huyết áp tại nhà, đặc biệt nếu gia đình đã có người mắc bệnh hoặc hơn 30 tuổi. Điều này giúp xác định tăng huyết áp ngay và ngăn ngừa tiến triển các biến chứng. Trước khi đo huyết áp, bệnh nhân nên nghỉ ngơi tối thiểu 5 phút và không hút thuốc hoặc dùng sản phẩm chứa caffein trong 30 phút trước khi đo.

Thuốc điều trị tăng huyết áp

Thuốc ức chế men chuyển

  • Các thuốc này ức chế men chuyển angiotensin (ACE), là men có vai trò quan trọng trong việc hình thành angiotensin Angiotensin ll làm co thắt động mạch gây tăng huyết áp. Thuốc ức chế ACE làm hạ huyết áp bằng cách ức chế sự hình thành angiotensin ll, do đó làm giãn động mạch. Khi động mạch giãn thì huyết áp được hạ xuống và cải thiện hiệu quả bơm của tim ở người bị suy tim. Vì vậy, thuốc ức chế ACE được dùng để kiểm soát huyết áp và điều trị suy tim sung huyết.
  • Một số thuốc trong nhóm này như benazepril, captopril, cilazapril, delapril, enalapril, fosinopril, imidapril, lisinpril, moexipril, perindopril, quinapril, ramipril và trandolapril.

Thuốc đối kháng Angiotensin ll

  • Thuốc đôi kháng cụ thể Angiotensin ll, như azilsartan, candesartan, eprosartan,irbesartan, losartan, olmesartan, telmisartan và valsartan, cũng có thể được dùng trong điều trị tăng huyết áp.
  • Những thuốc này làm hạ huyết áp bằng cách trực tiếp ngăn cản tác động của angiotensin ll gây co các tiểu động mạch. Do cơ chế trực tiếp hơn, nên có thể có ít tác dụng ngoại ý hơn.

Thuốc chẹn thụ thể bêta

  • Một số thuốc trong nhóm này, như acebutolol, alprenolol, atenolol, betaxolol, bisoprolol, bupranolol, carteolol, carvedilol, celiprolol, esmolol, labetalol, metoprolol, nadolol, nebivolol, oxprenolol, penbutolol, pindolol, propranolol, sotalol và timolol, có thể tác động lên một trong hai thụ thể bêta1 hoặc bêta 2. Nên dùng các thuốc tác động lên thụ thể bêta 2 trong điều trị tăng huyết áp.
  • Các thuốc nhóm này làm hạ huyết áp băng cách làm giảm nhịp tim và áp lực của tim khi tim bơm máu vào hệ tuần hoàn.

Thuốc đối kháng canxi

  • Còn được gọi là thuốc chẹn kênh canxi, thuốc phong bế nguồn canxi hoặc thuốc ức chế dòng canxi, các thuốc này tác động lên ức chế kênh canxi, do đó ngăn dòng ion canxi vào máu, gây ra giãn mạch.
  • Những thuốc này đã được dùng làm giãn mạch máu ngoại biên và mạch vành khi tăng huyết áp. Khi giãn mạch, áp lực trên thành mạch sẽ giảm. Những thuốc này gồm:
  1. Nhóm dihydropyridine (như amlodipine, barnidipine, benidipine, clinidipine, felodipine, isradipine, lacidipine, lercanidipine, manidipine, nicardipine, nifedipine và nitredipine) được dùng trong tăng huyết áp và đau thắt ngực.
  2. Nhóm benzothiazepine, như diltiazem, và
  3. Nhóm phenylalkylamine, như verapamil, được dùng chống loạn nhịp, đau thắt ngực và tăng huyết áp.

Thuốc lợi tiểu

  • Thuốc lợi tiểu giúp đào thải muối và điện giải ra khỏi cơ thể. Điều này giúp giảm huyết áp, do giảm được hàm lượng muối (đặc biệt là natri) trong cơ thể.
  • Cần thận trọng khi dùng các thuốc này vì có thể gây mất cân bằng điện giải nghiêm trọng.
  • Các nhóm thuốc lợi tiểu chính được dùng trong điều trị tăng huyết áp là:
  1. Nhóm lợi tiểu quai, như azosemide, bumetanide, acid ethacrynic, etozolin, furosemide, muzolimine, piretanide và torasemide.
  2. Nhóm lợi tiểu thiazide (benzothiadiazine) và các lợi tiểu kết hợp khác (như indapamide, metolazone, tripamide) thường có cấu trúc tương tự nhóm thiazide. Nhóm lợi tiểu thiazide gồm butizide, chlorthiazide, chlorthalidone, clopamide, cyclopenthiazide, cyclothiazide, dihydrochlorothia, epithiazide, hydrochlorothiazide, methylclothiazide và trichlormethiazide.
  3. Nhóm lợi tiểu giữ kali, như amiloride, canrenone, spironolactone và triamterene.
  4. Các phối hợp lợi tiểu cũng có thể được dùng, như amiloride/hydrochlorothiazide, bumetanide/KCl, cyclopenthiazide/amiloride, spirinolactone với butizide hoặc hydrochlorothiazide hoặc thiabutazide.

Các thuốc điều trị tăng huyết áp khác

  • Các thuốc điều trị tăng huyết áp khác có hiệu quả tương tự, nhưng cơ chế tác động khác nhau và có thể tác động trên những vị trí khác nhau, như các cụ thể khác. Các thuốc này gồm:
  1. Các thuốc kháng adrenergic có tác động trung ương (như clonidine, guanfacine, methyldopa, inoxinidine, rilmenidine, tiamenidine và tolonidine), tác động ngoại biên giống alkaloid cây ba gạc (như reserpine) và chẹn alpha (như alfuzosin, bunazosin, doxazosin, prazosin, tamsulosin và terazosin.
  2. Các thuốc giãn mạch trực tiếp, như diazoxide, dihydralazine, endralazine, hydralazine, minoxidil và tolazoline, là một trong các thuốc lựa chọn hàng đầu được dùng trong cơn tăng huyết áp kịch phát.
  3. Chất đối vận cụ thể endothelin, như ambrisentan, bosentan và sitaxentan, là các trị liệu hứa hẹn trong tăng huyết áp, nhất là tăng áp phổi.
  4. Các thuốc chẹn serotonin, như ketanserin, cũng được dùng trong điều trị tăng huyết áp.
  5. Các thuốc mở kênh kali, còn gọi là thuốc hoạt hóa kênh kali (như cromakalim, nicorandil và pinacidil) được dùng trong điều trị chứng đau thắt ngực và tăng huyết áp.
  6. Các thuốc phong tỏa hạch, như âzmethonium, dicolinium, hexamethonium, mecamylamine và trimethaphan, là các thuốc điều trị tăng huyết ápức chế dẫn truyền xung động thần kinh ở cả hạch giao cảm và đối giao cảm.
  7. Các chất ức chế renin, như aliskiren, giúp làm giảm tác dụng renin máu và ngăn sự chuyển đổi angiotensinogen thành angiotensin l, và vì vậy ức chế sản sinh angiotensin ll và aldosterone.
  8. Các phối hợp điều trị tăng huyết áp, như thuốc lợi tiểu và chẹn bêta, hoặc thuốc lợi tiểu và ức chế ACE, hoặc thuốc lợi tiểu và đối kháng cụ thể angiotensin ll, hoặc đối kháng canxi (dhydropyridine) và chẹn bêta, hoặc các phối hợp khác, cũng có thể được dùng trong điều trị tăng huyết áp.

Tham khảo chuyên đề nhà thuốc thực hành

Ý kiến bạn đọc (0)

© 2018 Dược Sỹ Tư Vấn. Thiết kế Website bởi VietMoz.