Bệnh nhiễm trùng đường hô hấp

Nhiễm trùng đường hô hấp là tình trạng nhiễm trùng xảy ra ở đường dẫn khí do vi khuẩn hoặc virus gây ra, được chia làm 2 dạng: nhiễm trùng đường hô hấp trên và nhiễm trùng đường hô hấp dưới.

Nhiễm trùng đường hô hấp trên bao gồm nhiễm trùng ở những cơ quan bên trên của đường hô hấp, như mũi và họng, thường gây ra bởi virus và ít khi nghiêm trọng.

Ngược lại, nhiễm trùng đường hô hấp dưới gồm nhiễm trùng ở khí quản (đường dẫn khí từ thanh quản đến phế quản), phế quản (một nhánh của khí quản) và phổi. Các dấu hiệu và triệu chứng thường chỉ rõ dạng nhiễm trùng hô hấp nặng, tức nhiễm trùng đường hô hấp dưới.

nhiễm trùng đường hô hấp

Chăm sóc bệnh nhân nhiễm trùng đường hô hấp

  • Uống nhiều chất lỏng, đặc biệt là nước. Chất lỏng giúp giữ nước và làm loãng dịch nhầy trong phổi.
  • Các thuốc nhỏ mũi chứa nước mũi chứa nước muối cũng có thể giúp loãng nhầy mũ.
  • Tránh các yếu tố làm nặng thêm tình trạng bệnh, như khói thuốc lá, môi trường ô nhiễm nặng,…
  • Tránh hút thuốc, lạm dụng rượu và ma túy. Hút thuốc làm tổn thương đường dẫn khí và rượu ảnh hưởng đến hoạt động của các bạch cầu chống nhiễm trùng.
  • Tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể bằng cách ăn uống điều độ, tập thể dục thường xuyên, nghỉ ngơi đầy đủ, giảm stress.
  • Điều chỉnh lại nhiệt độ và độ ẩm trong phòng, giữ phòng ấm nhưng không quá nóng.
  • Dùng thuốc làm giảm các triệu chứng, như thuốc ho, thuốc cảm hoặc thuốc hạ sốt. Hầu hết các nhiễm trùng đường hô hấp sẽ khỏi theo thời gian, nhưng một số cần can thiệp y tế ngay lập tức.
  • Tuân thủ thời gian sử dụng thuốc, đặc biệt là kháng sinh. Ngưng thuốc sớm có thể làm bệnh tái phát và làm phát triển dòng vi khuẩn kháng thuốc.
  • Làm dịu cổ họng. Súc họng bằng nước muối ấm vài lần trong ngày, hoặc uống nước chanh ấm với mật ong có thể giúp làm dịu đau họng và giảm ho.
  • Giữ bệnh nhân ở tư thế thẳng đứng sẽ giúp họ dễ thở hơn.
  • Giữ vệ sinh tốt nhằm phòng tránh việc mặc bệnh hoặc lây nhiễm qua đường hô hấp. Che mũi và miệng khi hắt hơi và ho. Tránh chạm tay vào mắt, mũi và miệng để hạn chế phát tán virus.
  • Rửa tay thường xuyên, đặc biệt sau khi tiếp xúc với dịch tiết đường ho hấp, như sau khi hỉ mũi, hắt hơi, hoặc sau khi chăm sóc người bị ho, cảm hoặc đau họng.
  • Vứt bỏ ngay khăn giấy bẩn sau khi hỉ mũi hoặc hắt hơi để tránh truyền bệnh cho người khác.
  • Tránh tập trung nơi động người và không thông thoáng.

Thuốc và điều trị nhiễm trùng đường hô hấp

Kháng sinh

  • Macrolid, như azithromycin, clarithromycin, dirithromycin, erythromycin, josamycin, mideca-mycin, roxithromycin và spiramycin, bao gồm cả dẫn xuất của macrolid, như telithromycin, và tetracyclin, như chlortetracycline, doxycycline, minocycline, oxytetracycline, tigecycline và tet-racycline, thường được dùng trong điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp.
  • Cephalosporin, từ thế hệ 1 đến thế hệ 4, cũng được dùng trong điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp. Thế hệ 1gồm cefadroxil, cefalexin, cefalo-tin, cefapỉin, cefazolin, cefradine, ceftezole, cefa-trizine. Thế hệ 2 gồm cefaclor, cefamandole, ce-fmetazole, cefminox, cefonicid, ceforanide, cefo-tetan, cefoxitin, cefprozil, cefuroxime. Thế hệ 3 gồm cefdinir, cefditoren, cefetamet, ce-fixime, cefoperazone, cefotaxime, cefpodoxime, ceftazidime, ceftibuten, ceftizoxime, ceftriaxone, cefodizime. Thế hệ 4 gồm cefepime, cefpirome.
  • Các kháng sinh khác được dùng trong nhiễm trùng đường hô hấp là chloramphenicol (như chloramphenicol, thiamphenicol), penicillin (như amoxicillin, ampicillin, bacampicillin, ben-zathine benzylpenicllin, acid clavulanic, cloxacil-lin, dicloxacillin, flucloxacillin, nafcillin, oxacillin, procaine penicillin, phenoxymethyl penicillin, tazobactam và co-amoxiclav), aminoglycoside (như amikacin, dibekacin, gentamincin, kanamycin, netilmicin, parômmycin, streptomycin và tobra-mycin), B-lactam khác (như aztreonam, cilastatin/imipenem, ertapenem và meropenem), quinolone (như ciprofloxacin, enoxacin, gatifloxacin, levo-floxacin, lomefloxacin, moxifloxacin, ofloxacin, pe-floxacin, sitafloxacin, sparfloxacin và tosufloxacin).
  • Các phối hợp kháng khuẩn, như co-amoxiclav (amoxicillin và acid clavulanic), như co-trimoxazole (sulfamethoxazole và trimethoprim) và cotrimazine (sulfadiazine và trimethoprim), và các kháng sinh khác, như clinezolid, fosfomycin, acid fusidic, lincomycin, linzolid, metronidazole, pristinamycin, rifampicin và vancomycin, cũng được dùng trong điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp.
  • Các khánh sinh này thường được dùng để kiểm soát nhiễm trùng cơ hội tấn công khi đường hô hấp dễ bị tổn thương nhất. Thuốc có hoạt tính chống lại các chủng vi khuẩn không chỉ ở đường hô hấp mà còn có ở hầu hết các cơ quan trong cơ thể.
  • Các thuốc này tác động trên vi khuẩn gây bệnh trong nhiễm trùng đường hô hấp có biến chứng theo 3 cách: ngăn chặn sự tổng hợp vách tế bàovi khuẩn, ức chế sự tổng hợp DNA của vi khuẩn, và ức chế quá trình sao chép của vi khuẩn.
  • Nên dùng kháng sinh theo cách chỉ định của bác sĩ. Việc sử dụng kháng sinh không đúng có thể tạo ra các chủng vi khuẩn để kháng thuốc.
  • Nhóm tetracyclin có thể làm đổi màu răng và phồng thóp ở trẻ.
  • Bệnh nhân đang dùng thuốc kháng đông như war-farin nên tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi dùng đường uống.
  • Các phối hợp kháng khuẩn thường được dùng để phòng tránh sự bất hoạt thuốc bởi enzym của vi khuẩn. Thuốc đi kèm thường có một mức độ kháng khuẩn nhất định, nhưng chủ yếu được dùng để kháng enzyme.

Sulfamethoxazole

  • Sulfamethoxazole (thường phối hợp với trim-ethoprim) và các sulffonamid khác, như sulfadia-zine, sulfadimidine, sulfadoxine và sulfamerazine, cũng có thể được dùng trong điều trị nhiễm khuẩn đường hô hấp.
  • Thuốc kháng lao có thể chia làm 2 nhóm để điều trị nhiễm lao đường hô hấp.
  1. Nhóm thuốc đầu tay, như ethambutol, isonia-zid, pyrazinamide, rifampicin, rifaximin và streptomycin, thường là chọn lựa đầu tiên trong điều trị lao.
  2. Nhóm thuốc thay thế, như aminosalicylat, capreomycin, cycloserine, cycloserine, ethionamide, kanamycin và prothionamide, chủ yếu được dùng khi có đề kháng hoặc độc tính đối với nhóm thuốc đầu tay
  • Khi dùng những thuốc này, luôn đảm bảo theo dõi nghiêm ngặt sự tuân thủ của bệnh nhân về liều dùng và thời gian điều trị. Điều này giúp phòng ngừa sự phát triển các dòng vi khuẩn đề kháng trong quá trình điều trị.
  • Điều trị lao thường từ 6 đến 9 tháng.

Thuốc kháng virus

  • Thuốc kháng virus (như ribavirin) thường có ích trong nhiễm virus hô hấp hợp bào (RSV). Các thuốc này giúp phòng ngừa nhiễm RSV gây biến chứng, như viêm tiểu phế quản và viêm phổi.
  • Một vài nhà nghiên cứu đã phối hợp globulin miễn dịch tiêm tĩnh mạch (IGIV) với kháng thể kháng RSV trung tính hóa ở nồng độ cao (RSV-IGIV) và ribavirin để điều trị cho những bệnh nhân bị suy giảm hệ miễn dịch.
  • Những nghiên cứu gần đây cho thấy dạng tiêm IM của kháng thể đơn dòng RSV gọi là palivizumab có thể có lợi trong điều trị nhiễm RSV.
  • Gần đây, hai thuốc kháng sinh virus mới, được phân loại như thuốc ức chế neuraminidase, zanamivir và oseltamivir, cho thấy có hiệu quả trên cả virus cúm típ A và B.

Thuốc dùng cho miệng/họng

  • Các thuốc dùng tại chỗ, dạng ngậm, súc miệng hoặc sịt họng, chứa hoạt chất kháng viêm (như benzyda-mine), gây tê (như amylocaine, lidocaine, tetracaine) và kháng khuẩn/khử trùng (như amylmetacresol, benzalkonium chloride, benzoxonium, biclotymol, acid boric, cetalkonium chloride, cetylpyridinium chloride, dequalinium chloride, dichlorobenzyl alco-hol, hexetidine, povidone-iodine) và các hoạt chất kháng chất khác (như bacitracin, fusafungine, miconazole, neomycin sulfate, tyrothricin) có thể có ích trong điều trị một số dạng nhiễm khuẩn hô hấp, như đau họng, viêm amidan, viêm họng.
  • Một vài thuốc khử trùng có thể gây kích ứng lưỡi và môi.

Điều trị hỗ trợ

  • Cát cánh, thì là, lanh, hành, xông hơi nước.

Tham khảo chuyên đề nhà thuốc thực hành

Ý kiến bạn đọc (0)

© 2018 Dược Sỹ Tư Vấn. Thiết kế Website bởi VietMoz.